
Công trường xây dựng dự án Trung tâm hành chính mới và công viên cảnh quan khu vực hồ trung tâm Thủ Thiêm - Ảnh: T.T.D.
Đây là tín hiệu cần đặc biệt lưu ý, nhất là khi Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số dựa vào đầu tư và xuất khẩu.
Doanh nghiệp trong nước vẫn là điểm yếu
Điều cần lưu ý là nhập siêu hiện nay không phải do suy giảm xuất khẩu.
Tính từ đầu năm đến ngày 15-6, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 496,65 tỉ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó xuất khẩu đạt 239,93 tỉ USD, tăng 21%; nhập khẩu đạt 256,72 tỉ USD, tăng 33,1%.
Mức nhập siêu 16,8 tỉ USD tương phản mạnh với cùng kỳ năm ngoái khi Việt Nam còn xuất siêu gần 5 tỉ USD.
Có một đặc điểm quen thuộc của kinh tế Việt Nam trong các giai đoạn tăng trưởng cao trước đây, đó là khi đầu tư và xuất khẩu tăng nhanh, nhu cầu nhập khẩu đầu vào cũng tăng mạnh.
Dù đã có nhiều nỗ lực cải cách và thúc đẩy nội địa hóa, Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu, năng lượng và nhiều hàng hóa trung gian phục vụ sản xuất. Vì vậy mỗi chu kỳ tăng trưởng cao thường đi kèm với chu kỳ nhập khẩu cao.
Nếu xu hướng này tiếp tục, áp lực lên các cân đối vĩ mô sẽ rõ hơn. Nhập siêu kéo dài làm tăng nhu cầu ngoại tệ, có thể tạo sức ép lên tỉ giá và dự trữ ngoại hối.
Khi tỉ giá chịu áp lực, chi phí nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu, máy móc và thiết bị có thể tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất trong nước.
Với một nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu như Việt Nam, áp lực tỉ giá có thể nhanh chóng chuyển thành áp lực chi phí và lạm phát.
Phân tích theo khu vực kinh tế cho thấy áp lực nhập siêu chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp trong nước.
Trong năm tháng đầu năm 2026, khu vực này xuất khẩu 42,9 tỉ USD, giảm 13,7%, trong khi nhập khẩu đạt 62,9 tỉ USD, tăng 1,4% khiến nhập siêu lên 20,03 tỉ USD, cao hơn nhiều so với 12,37 tỉ USD cùng kỳ.
Diễn biến này phản ánh hạn chế về năng lực cạnh tranh, khả năng giữ đơn hàng và tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nội địa.
Ngược lại, khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu với kim ngạch 172,4 tỉ USD, tăng 31,9%. Tuy nhiên nhập khẩu của khu vực này cũng tăng mạnh 44,8%, lên 164,5 tỉ USD khiến mức xuất siêu thu hẹp từ 17,1 tỉ USD xuống còn 7,88 tỉ USD.
Cơ cấu nhập khẩu cho thấy dòng hàng hóa tăng thêm chủ yếu phục vụ sản xuất, đầu tư thay vì tiêu dùng. Tuy nhiên ngay cả trong kịch bản tích cực đó cũng không thể xem nhẹ các rủi ro và yếu kém mang tính cơ cấu vốn đã được nhận diện từ hơn hai thập niên trước.
Điểm yếu căn bản là mô hình tăng trưởng vẫn phụ thuộc lớn vào bên ngoài, từ vốn, công nghệ, thị trường đến chuỗi cung ứng đầu vào. Nhìn sâu hơn, nhập siêu còn phản ánh mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư.
Về nguyên tắc, đầu tư phải được tài trợ từ tiết kiệm. Khi đầu tư tăng nhanh nhưng tiết kiệm quốc gia không tăng tương ứng, nền kinh tế sẽ thiếu hụt tiết kiệm và phải huy động nguồn lực bên ngoài.
Biểu hiện vĩ mô của quá trình này là thâm hụt cán cân vãng lai. Khi cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang thâm hụt, rủi ro cán cân vãng lai cũng chuyển sang thâm hụt sẽ rõ hơn.

Ước tính của tác giả cho hai quý đầu năm 2026. Trong đó quý 2 tính đến tháng 4 và tháng 5
Để tăng trưởng không đánh đổi bằng nhập siêu
Để thúc đẩy tăng trưởng cao mà vẫn giữ cán cân vãng lai trong giới hạn an toàn cần xử lý đồng thời cả hai phía của cân đối tiết kiệm - đầu tư và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trước hết, cần duy trì tỉ lệ đầu tư ở mức hợp lý, khoảng 35% GDP và chỉ nên tăng lên khoảng 37% GDP nếu hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện rõ rệt.
Quan trọng là phải giảm ICOR, nâng cao chất lượng đầu tư công, hạn chế dàn trải và ưu tiên các dự án có tác động lan tỏa đến năng suất và năng lực sản xuất trong nước.
Nếu đầu tư tăng quá nhanh nhưng hiệu quả không cải thiện, nền kinh tế có thể sẽ phải trả giá bằng nhập siêu, thâm hụt cán cân vãng lai và bất ổn vĩ mô.
Thứ hai, từng bước nâng tiết kiệm quốc gia trở lại mức khoảng 35-37% GDP, phù hợp với yêu cầu cân đối tiêu dùng nội địa.
Đây là mức tương đối hợp lý để vừa tài trợ cho đầu tư vừa tránh gây sức ép lớn lên cán cân vãng lai. Nếu tiết kiệm phù hợp với quy mô đầu tư, cán cân vãng lai có thể duy trì thặng dư nhẹ hoặc tương đối cân bằng, qua đó giảm áp lực lên tỉ giá, dự trữ ngoại hối và lãi suất trong nước.
Thứ ba, tiếp tục xử lý các nguyên nhân cơ cấu của nhập siêu bằng cách nâng cao sức cạnh tranh của khu vực kinh tế trong nước, nhất là kinh tế tư nhân.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần tập trung vào tiếp cận thị trường, duy trì đơn hàng, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Thứ tư, thúc đẩy nội địa hóa chuỗi cung ứng và phát triển các cấu phần thượng nguồn có giá trị gia tăng cao. Cần phát triển nhà cung ứng trong nước, công nghiệp hỗ trợ, vật liệu, linh kiện, thiết bị, hóa chất, năng lượng... Thu hút FDI giai đoạn tới cần ưu tiên chất lượng liên kết, chuyển giao công nghệ, tỉ lệ nội địa hóa và cam kết kéo doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng.
Thứ năm, củng cố các tấm đệm ổn định vĩ mô. Cần duy trì dự trữ ngoại hối ở mức an toàn, điều hành tỉ giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường, tránh neo cứng nhắc, đồng thời điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỉ giá và hỗ trợ tăng trưởng. Chính sách tài khóa cũng cần phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ, bảo đảm bội chi trong giới hạn an toàn.










