Năm 2025, Việt Nam ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư vào hệ sinh thái công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tổng vốn đầu tư tư nhân vào lĩnh vực công nghệ đạt khoảng 4,5 tỷ USD thông qua 149 thương vụ, tăng mạnh so với năm trước; trong đó, vốn đầu tư cổ phần tư nhân đạt mức cao kỷ lục khoảng 4 tỷ USD và vốn đầu tư mạo hiểm tăng khoảng 28%. Nhiều lĩnh vực công nghệ chiến lược tiếp tục thu hút mạnh mẽ các quỹ đầu tư và nhà đầu tư quốc tế.
Cùng với đó, thời gian qua, ngày càng nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), quỹ đầu tư và doanh nghiệp công nghệ quốc tế lựa chọn Việt Nam là điểm đến cho các hoạt động đầu tư chiến lược, nghiên cứu phát triển và sản xuất công nghệ cao.
Hệ sinh thái công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang phát triển năng động với sự hiện diện ngày càng sâu rộng của các tập đoàn công nghệ toàn cầu, quỹ đầu tư quốc tế và cộng đồng startup sáng tạo. Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), Việt Nam hiện xếp hạng 44 thế giới và nằm trong nhóm dẫn đầu các nền kinh tế thu nhập trung bình. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã vươn lên thuộc nhóm 50 hệ sinh thái khởi nghiệp mới nổi hàng đầu toàn cầu.
Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, mục tiêu 2030, 2% GDP cho nghiên cứu và phát triển, 50% xuất khẩu công nghệ cao. Về mục tiêu này, tại Triển lãm Quốc tế Công nghiệp Việt Nam 2025 – VIET INDUSTRY 2025, TS. Nguyễn Quân – Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam chia sẻ vấn đề phải đầu tư rất lớn cho phát triển khoa học công nghệ, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước cần đạt tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hàng năm, bên cạnh nguồn đầu tư từ xã hội. Mục tiêu đến năm 2030, mức đầu tư cho khoa học công nghệ đạt khoảng 2% GDP quốc gia – một con số được xem là đầy thách thức. Ông Quân cho biết, “Hàn Quốc mất 40 năm và Trung Quốc mất 30 năm để đạt mức 2% GDP đầu tư cho khoa học công nghệ”.
Theo đó, Việt Nam chỉ còn 5 năm nữa để đạt mục tiêu đầu tư cho khoa học công nghệ tương đương 2% GDP, đồng nghĩa với việc Việt Nam phải hoàn thành quãng đường mà Trung Quốc và Hàn Quốc từng mất 30 – 40 năm chỉ trong vòng 5 năm.
Ông cho rằng điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm đầu tư của khối doanh nghiệp, không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà là toàn bộ hệ thống doanh nghiệp của Việt Nam. Về lâu dài, theo ông, doanh nghiệp tư nhân sẽ trở thành nguồn đầu tư lớn nhất cho phát triển khoa học và công nghệ.
Đây không chỉ là bài học kinh nghiệm từ các nước phương Tây, mà còn là kinh nghiệm thực tiễn từ các nền kinh tế Đông Á – những “con hổ”, “con rồng” như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Để có thể huy động được nguồn vốn đầu tư rất lớn này, ông Quân nhấn mạnh rằng hệ thống cơ chế, chính sách hiện hành cần có những thay đổi mang tính đột phá.
Mục tiêu đến năm 2030, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế.
Cùng với đó, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.
Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.










